Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

Market Equilibrium (Market clearing)

Cân bằng thị trường?
Cân bằng thị trường là trạng thái lượng cung bằng lượng cầu tại một mức giá nào đó.

     Trong điều kiện chỉ có giá và lượng hàng hóa tác động lên thị trường, khi mức giá trên thị trường thấp hơn mức giá cân bằng, lượng cầu của người tiêu dùng sẽ vượt lượng cung của nhà sản xuất. Chênh lệch giữa lượng cầu và lượng cung được gọi là dư cầu hay thiếu hụt hàng hóa. Khi một mặt hàng bị thiếu hụt những người đánh giá cao mặt hàng đó, cần thiết mặt hàng đó sẽ trả giá cao hơn cho người bán. Khi giá tăng nhà sản xuất sẽ phản ứng tăng lượng cung và người tiêu dùng phản ứng giảm lượng cầu. Một khi lượng cung và lượng cầu bằng nhau thì không còn áp lực tăng giá, cân bằng được thiết lập. Hiện tượng dư cung hay dư thừa hàng hóa diễn ra tương tự.
     Khi thu nhập của người tiêu dùng tăng, họ sẽ tăng lượng cầu hàng hóa sẽ tăng ở mọi mức giá, do đó cầu tăng. Từ mức giá cân bằng, lượng cầu tăng vượt lượng cung khiến giá bị đẩy lên. Nhà sản xuất đáp ứng bằng cách tăng lượng cung. Giá sẽ tăng tới khi một cân bằng mới được thiết lập, ở đó lượng và giá mới đều cao hơn ban đầu.
    Giá nguyên liệu có thể tăng do lượng cầu nguyên liệu tăng hoặc do thuế nhập khẩu nguyên liệu tăng. Khi đó nhà sản xuất nâng giá bán hàng hóa để duy trì sản xuất. Khi giá tăng, một số người tiêu dùng sẽ mua ít đi. Kết quả giá cân bằng mới ở mức cao hơn và lượng cân bằng mới ở mức thấp hơn, cả người tiêu dùng và nhà sản xuất đều thiệt.

Markets: Supply & Demand

Kinh tế học vi mô thường được gọi là lý thuyết về giá, bới vì môn này tập trung vào cơ chế xác định giá hàng hóa, dịch vụ của thị trường. Trong kinh tế vi mô thị trường không phải chỉ là một điểm trao đổi hàng hóa, mà chủ yếu thể hiện mối quan hệ tương tác giữa cung và cầu.

Cầu?
Cầu là mối quan hệ tương tác giá của một mặt hàng với lượng cầu mặt hàng đó, trong điều kiện những yếu tố khác không thay đổi. Giá được đo theo đơn vị tiền và lượng cầu được đo theo đơn vị hàng hóa mà tiêu dùng sẵn lòng mua, có thể mua trong một thời điểm.
Quy luật cầu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa giá và lượng cầu: giá tăng lượng cầu giảm.

Cung?
Cung là mối quan hệ tương tác giá của một mặt hàng với lượng cung mặt hàng đó, trong điều kiện những yếu tố khác không thay đổi. Lượng cung được đo theo đơn vị hàng hóa người bán sẵn lòng bán và có thể bàn trong một thời điểm.
Quy luật cung nêu lên mối quan hệ giữa thuận biến giữa giá và lượng cung: giá tăng lượng cung tăng.

Tại một mức giá mà lượng cầu bằng lượng cung, ta gọi là cân bằng thị trường. Nếu giá thị trường thấp hơn giá cân bằng thị trường, lượng cầu của người tiêu dùng sẽ vượt lượng cung của nhà sản xuất.

Opportunity Cost

Khi một lựa chọn kinh tế được thực hiện, các nhà kinh tế đo lường chi phí chọn lựa đó dưới dạng chi phí cơ hội, được định nghĩa là giá trị tốt nhất của chọn lựa thay thế bị bỏ qua.
When an economic choice is made, economists measure the cost of that choice in terms of opportunity cost, which is defined as the value of the best alternative forgone.

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

Economics

Kinh tế?
Kinh tế là tổng thể các yêu tố sản xuất, các mối hệ trong sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng và điều kiện
sống của con người.
Trước đây kinh tế được dùng để chỉ công việc của vị vua trị vì, cai quản  đất nước.
Theo nghĩa hẹp kinh tế là hoạt động làm ăn, sản xuất của cá nhận, doanh nghiệp.
Theo nghĩa rộng kinh tế là toàn bộ hoạt động sản xuất, lưu thông, phân phối, trao đổi của một cộng đồng dân cư, một vùng lãnh thổ.

Kinh tế học?
Kinh tế học là bộ môn khoa học xã hội giúp con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung, cách ứng xử của từng chủ thể tham gia vào kinh tế nói riêng.
Kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phân phối, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong điều kiện hạn hẹp về nguồn lực, tập trung quản lý, sử dụng để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con người trong điều kiện đó.

Phân tích theo hai mức độ vi mô và vĩ mô khác nhau ta có kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô.

Kinh tế học vi mô?
Kinh tế học vi mô nghiên cứu các quyết định cá nhân, doanh nghiệp và sự tương tác giữa các quyết định này trên thị trường. Kinh tế học vi mô giải quyết các đơn vị cụ thể của nền kinh tế và xem xét chi tiết cách thức vận hành của các đơn vị kinh tế hay các phân đoạn của nền kinh tế.
Ví dụ:
- Giải thích giá và lượng của một hàng hóa cụ thể.
- Nghiên cứu quy định tác động đến giá và lượng của một hàng hóa, dịch vụ cụ thể.

Kinh tế học vĩ mô?
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế quốc gia, nền kinh tế toàn cầu, xem xét xu hướng phát triển và biến động tổng thể, toàn diện cấu trúc nền kinh tế và mối quan hệ của các bộ phận cấu thành nền kinh tế.
Ví dụ:
- Giải thích giá cả bình quân, tổng việc làm, tổng thu nhập, tổng lượng sản xuất.
- Nghiên cứu chính sách tác động lên tổng thu nhâp, tổng việc làm.

Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu sự sản xuất, phân phối và tiêu dùng các loại hàng hóa, dịch vụ. Nghiên cứu kinh tế học nhằm mục đích giải thích cách thức các nền kinh tế vận động và cách các tác nhân kinh tế tương tác với nhau. Các nguyên tác kinh tế được ứng dụng trong đời sống xã hội, trong thương mại, tài chính và hành chính công, thậm chí là tròng ngành tội phạm học, giáo dục, xã hội học, luật học và nhiều ngành khoa học khác.